Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hóa rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Ấn Độ. Đến nay, người Chăm vẫn lưu giữ được những nét văn hóa đặc trưng, trong đó có “dấu ấn” ứng xử của nếp nhà truyền thống…

Chế độ mẫu hệ

Với dân số khoảng 76.000 người, sống chủ yếu ở Ninh Thuận, Bình Thuận…, dân tộc Chăm là một trong số các dân tộc ít người lưu giữ được những nét văn hóa đặc trưng cho nền văn hóa truyền thống của các dân tộc trong khu vực Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Cũng như nhiều dân tộc khác trong khu vực Đông Nam Á, trước khi tiếp nhận những ảnh hưởng của văn hóa bên ngoài, dân tộc Chăm đã có một nền văn minh tương đối cao của chính mình, đặc biệt trong đời sống sinh hoạt.

alt
Trong lịch sử, Chăm là một trong những dân tộc có trình độ phát triển xã hội khá cao. Họ đã sớm hình thành một nhà nước riêng. Các làng đơn vị cư trú tiêu biểu cho xã hội truyền thống Chăm không phải là những công xã huyết tộc, bởi nó bao gồm nhiều dòng họ. Truyền thuyết giải thích về nguồn gốc của dân tộc Chăm có thể kể đến nữ thần Inư Nưgar (còn được gọi là thần xứ sở) –  vị thần sáng thế đầu tiên. Chính bà là người sinh ra lúa gạo, sinh ra gỗ trầm hương và hoa Chămpa – biểu tượng của dân tộc Chăm. Trong những cuộc tế lễ để tưởng nhớ công ơn của bà được tổ chức tại các lăng, tháp, người dân Chăm hát rằng: “Người là nữ thần mẹ của vương quốc, người tạo dựng vùng đất cho cây cối, người tạo ra giống lúa và dạy dân trồng lúa”. Rất nhiều nơi thờ cúng bà ngày nay được coi là những di tích văn hóa nổi tiếng như tháp Bà (Nha Trang), lăng bà ở Hữu Đức, Lạc Tri… Người Chăm thờ nữ thần Inư Nưgar không chỉ vì bà là vị thần tổ tiên đã tạo ra các cộng đồng người Chăm, mà còn là tổ mẫu của nghề nông, nghề dệt…

Có lẽ xuất phát từ nguồn gốc trên, mà chế độ mẫu hệ đã tồn tại dai dẳng ở các xã hội tộc Chăm. Và gia đình, với tư cách là đơn vị hợp thành xã hội, cũng chịu ảnh hưởng lâu dài của chế độ ấy. Với nền tảng của chế độ mẫu hệ, các khuôn mẫu ứng xử trong gia đình người Chăm có nhiều khác biệt so với các khuôn mẫu ứng xử được xây dựng từ nền tảng của chế độ phụ hệ. Sự khác biệt chỉ thể hiện giữa vai trò xã hội được thiết lập trên cơ sở sự phân lập, đối lập giữa hai giới nam – nữ, trong đó, vị trí của người phụ nữ được khẳng định và quan trọng hơn. Mọi công việc tổ chức trong gia đình đều được sắp đặt dưới sự chỉ huy của của người mẹ. Do đó người mẹ bao giờ cũng được mọi người trong gia đình coi trọng. Khi người vợ mang thai thì hầu như không phải làm bất cứ một công việc nặng nhọc nào. Lúc ấy, người chồng ngoài công việc ruộng vườn còn phải có trách nhiệm đi tìm kiếm các rễ cây thuốc phơi khô chờ khi vợ sinh nở làm thuốc uống, tìm bà mụ vườn đến nhà để cùng chăm sóc vợ. Nếu bỏ bê những công việc này, anh ta sẽ bị gia đình và cộng đồng chê trách. Gần ngày vợ sinh, người chồng còn phải sửa soạn một lễ cúng Nữ thần xứ sở Inư Nưgar để cầu xin mẹ tròn con vuông…